Quyển 1 · Chương 28: Giảng dạy

Sáng sớm hôm sau, bất chấp cơn đau nhức trên cơ thể và khuôn mặt sưng vù, Storie tìm thẳng đến chỗ thị trưởng Oliver.

Thị trưởng nhìn thấy vẻ mặt u ám cùng dáng điệu gượng gạo của người thợ săn, không khỏi giật mình: "Ông Hunter, mặt của ông là sao thế này..."

"Tôi cần sự giúp đỡ của dân làng," Storie ngắt lời, giọng điệu ngắn gọn súc tích, "Trong trấn có ai nhanh nhẹn, kiên nhẫn, và tốt nhất là... không quá sợ chết không? Phụ nữ cũng được, nếu lớn tuổi và có kinh nghiệm chăm sóc trẻ con thì càng tốt."

Thị trưởng ngẩn người, thận trọng hỏi: "Ông muốn...?"

Storie chỉ vào cô bé quàng khăn đỏ bên cạnh, kẻ đang cố nhét chiếc bút lông trên bàn thị trưởng vào miệng.

"Dạy nó. Trước khi nó giết chết tôi, hoặc giết chết thêm thứ gì khác, hãy dạy nó sống như một 'con người', chứ không phải một con dã thú."

"Bắt đầu từ những thứ cơ bản nhất: nói chuyện, nhận biết đồ vật, kiểm soát sức mạnh và làm những việc chân tay đơn giản."

Lời nói của anh thẳng thắn và lạnh lùng, nhưng thị trưởng đã hiểu.

Rõ ràng cô bé quàng khăn đỏ hiện tại là một rắc rối lớn và là mối đe dọa tiềm tàng mà chính người thợ săn cũng không thể kiểm soát nổi.

Việc giúp đỡ trông nom vừa là trả ân tình, vừa là cách gián tiếp để giữ yếu tố nguy hiểm này tránh xa cuộc sống thường nhật của dân làng – với điều kiện người được cử đi không bị cô bé vô tình giết chết.

Thị trưởng Oliver nhìn vào đôi mắt trong veo nhưng đầy hoang dại cùng đôi tai sói khẽ run rẩy của cô bé, nuốt khan một cái: "Ông Hunter, Little... dáng vẻ hiện tại của nó... cùng với sức mạnh đó, mọi người đều rất... kính sợ. E rằng..."

"Nó sẽ không chủ động làm hại các người, miễn là các người không tỏ ra hung hăng hoặc đưa cho nó những thứ 'thức ăn' sai lệch, độc hại." Storie ngắt lời, giọng điệu không cho phép nghi ngờ.

"Tôi vẫn sẽ ở bên cạnh giám sát, giai đoạn đầu sẽ kiểm soát nghiêm ngặt, cố gắng không để xảy ra án mạng."

Lời đảm bảo của Storie nghe chẳng chút hơi ấm.

"Hơn nữa, việc này có lợi cho các người."

"Có lợi?"

"Một kẻ bảo vệ mạnh mẽ, có thể kiểm soát được, vẫn tốt hơn một con quái vật hoàn toàn hoang dã, có thể mất kiểm soát bất cứ lúc nào vì sự ngây ngô."

Storie bình tĩnh phân tích, "Nó hiện tại nghe lời tôi, ít nhất là phần lớn thời gian. Thông qua học tập, nó có thể hiểu rõ hơn về 'quy tắc', giảm bớt những sự phá hoại vô ý. Các người dạy nó lẽ thường, cũng chính là đang bảo vệ chính mình."

"Chúng tôi cần bàn bạc lại."

Cuối cùng, thị trưởng cũng miễn cưỡng đồng ý.

Sau cuộc thảo luận ngắn, vài người dân gan dạ đã đứng ra.

Người thầy đầu tiên, lão Martin, là một ông già ít nói nhưng tay nghề điêu luyện. Lão chỉ vào đống gậy gỗ và ván gỗ với độ dày khác nhau, ra hiệu cho cô bé: "Cầm lấy thanh mảnh này."

Cô bé tò mò cầm lấy thanh gỗ to bằng ngón tay, dùng chút sức – "Rắc".

Mí mắt lão Martin giật giật, lão đổi sang một thanh to bằng cổ tay: "Thử cái này, hãy nghĩ là... nhẹ nhàng cầm lấy thôi."

Cô bé cố gắng làm ra vẻ mặt "nhẹ nhàng", thận trọng cầm lấy, rồi – "Cộp".

Storie đứng xem bên cạnh phải day day thái dương.

Lão Martin thở dài, chỉ vào đôi bàn tay đầy vết chai sạn và sẹo của mình: "Nhóc con, nhìn tay ta này. Ta dùng công cụ cả đời, biết mỗi thứ chịu được bao nhiêu lực. Cháu không phải đang 'cầm' đồ vật, cháu đang 'tấn công' nó. Thử tưởng tượng... trong tay cháu đang nâng một quả trứng mới đẻ, hoặc là... ừm, một miếng đậu phụ mềm mại?"

Cô bé ngơ ngác nhìn lão, rõ ràng không hiểu "đậu phụ" là gì.

Lão Martin suy nghĩ một chút, lấy từ trong ngực ra một viên kẹo mềm mà chính lão cũng không nỡ ăn, đưa cho Storie. Storie hiểu ý, đặt viên kẹo lên một tấm ván phẳng.

"Thấy cái đó không? Mục tiêu của cháu là dùng ngón tay 'đẩy' nó đến mép ván, nhưng không được làm nát nó, cũng không được làm hỏng tấm ván."

Sự chú ý của cô bé lập tức bị viên kẹo thu hút. Cô vươn ngón trỏ, cực kỳ chậm rãi, từng chút một tiến lại gần viên kẹo, biểu cảm tập trung chưa từng có.

Đầu ngón tay khẽ chạm vào viên kẹo, rồi dùng một lực cực nhẹ... viên kẹo từ từ trượt đi một centimet, tấm ván vẫn nguyên vẹn.

"Đúng! Chính là như vậy!" Lão Martin hiếm hoi lắm mới cất cao giọng.

Cô bé dường như cảm thấy đây là một trò chơi, bắt đầu thử dùng lực khác nhau để đẩy kẹo. Dù trong quá trình vẫn vô tình làm vỡ hai tấm ván, chọc thủng ba cái lỗ, nhưng đến chiều tối, cô đã có thể dùng "lực nhẹ" tương đối ổn định để đẩy viên kẹo đi đường thẳng trên ván.

Để thưởng, lão Martin đưa viên kẹo cuối cùng cho cô. Cô bé nheo mắt vui vẻ, cái đuôi khẽ đung đưa.

Người thầy thứ hai là Martha, một phụ nữ nhiệt tình nhưng giọng nói rất lớn.

"Đây là lửa," bà chỉ vào bếp lò, "Nguy hiểm, nóng, không được chạm vào. Đây là nước, có thể uống, có thể rửa đồ. Đây là bột mì... ôi trời đất ơi! Đừng hít!"

Cô bé tò mò vùi mặt vào túi bột mì Martha đưa cho xem, hắt hơi một cái, bột mì bay tứ tung, khiến mặt mũi cô trắng xóa, còn bị sặc đến ho sặc sụa.

Martha cuống cuồng lau mặt cho cô.

Việc dạy nhận biết rau củ và thịt thì khá suôn sẻ, khứu giác của cô bé cực kỳ nhạy bén, có thể phân biệt chính xác các loại thực phẩm khác nhau.

Nhưng đến khâu thực hành – Martha muốn dạy cô cách dùng dao cùn cắt bánh mì.

"Giống thế này, kéo qua kéo lại..." Martha làm mẫu.

Cô bé nhận lấy con dao, nhìn bánh mì, rồi nhìn con dao. Cô dường như thấy "kéo qua kéo lại" quá phiền phức, vươn tay kia ra, năm ngón tay chụm lại, quơ một đường trước mặt bánh mì, rồi... "Xoẹt!" Một bóng vuốt mờ ảo lướt qua, bánh mì được chia đều thành năm lát, vết cắt phẳng lì như gương. Trên thớt để lại năm vết xước nông.

Martha há hốc mồm, hồi lâu không khép lại được.

"Giỏi... giỏi thật... nhưng mà, nhóc con, chúng ta thường... không dùng tay để cắt bánh mì."

Bà giải thích một cách yếu ớt.

Nấu nướng lại càng là một thảm họa. Cô bé không thể hiểu được "lửa nhỏ hầm chậm", luôn cảm thấy lửa chưa đủ lớn, muốn thêm củi, suýt chút nữa làm nổ cả lò bếp.

Bảo cô trông nồi đừng để trào, cô trực tiếp thò tay vào nồi nước đang sôi sùng sục để nhấn phần bọt xuống – may mà Storie nhanh tay kéo cô ra, còn bàn tay bị bỏng của cô chỉ vài phút sau đã hồi phục như cũ, chỉ để lại một vệt đỏ nhạt.

Cuối cùng Martha từ bỏ việc dạy nấu nướng phức tạp, chuyển sang dạy cô cách hâm nóng thức ăn có sẵn một cách an toàn, và quan trọng nhất – phân biệt thứ gì tuyệt đối không được ăn sống, nhất là những sinh vật trông kỳ lạ hoặc tỏa ra hơi thở điềm gở.

"Ăn đồ không tốt, bụng sẽ đau, sẽ khó chịu, sẽ... biến thành quái vật!" Martha cố gắng dùng ngôn ngữ đơn giản nhất để cảnh báo.

Cô bé gật đầu như hiểu như không, nhưng Storie để ý thấy, khi Martha nhắc đến "quái vật", cái đuôi của cô bé khẽ run lên đầy bất an.

Tất nhiên, trong thời gian đó không phải không có sự cố. Trong một buổi "dạy nấu ăn".

Martha đang chuẩn bị bữa trưa, làm sạch một con cá tươi. Cô bé tò mò tiến lại gần, nhìn miếng thịt cá vẫn còn khẽ run rẩy.

Trong khoảnh khắc Martha quay lưng đi lấy gia vị, cô bé nhanh như chớp chộp lấy một miếng thịt cá sống nhét vào miệng.

"Á! Đó là đồ sống..." Bà Martha kêu lên.

Nhưng đã muộn.

Động tác nhai của cô bé dừng lại, ánh mắt cô thay đổi trong chớp mắt, hiện lên một vẻ lạnh lẽo, trơn tuột, một sự ngơ ngác đặc trưng của loài cá dưới nước và cảm giác giãy giụa dữ dội trong khoảnh khắc bị kéo lên khỏi mặt nước.

Cơ thể cô khẽ run rẩy, ngón tay vô thức làm động tác bơi lội, trong cổ họng phát ra tiếng bọt nước yếu ớt.

Bà Martha sợ hãi, vội ôm lấy cô: "Nhóc con? Little? Cháu sao thế?"

Mười mấy giây sau, cảm giác kỳ lạ đó mới rút khỏi mắt cô bé, cô chớp chớp mắt, khôi phục lại vẻ ngơ ngác trống rỗng như cũ, như thể vừa rồi chỉ là một cơn chóng mặt thoáng qua.

Người thầy thứ ba là Gwen, một thợ may chột mắt từng làm thương nhân du lịch.

Gwen là một người phụ nữ hiểu biết rộng, sau khi mất một bên mắt thì định cư tại đây.

Bà cho rằng vấn đề của cô bé không chỉ là mất trí nhớ hay thoái hóa, mà là "thiếu sự kết nối hiệu quả với thế giới bên ngoài".

Bà không dùng cách ép buộc ghi nhớ, mà áp dụng phương pháp dẫn dắt và liên tưởng.

Bà cầm một mảnh vải đỏ, khoác lên vai cô bé: "Màu đỏ, giống mũ của cháu, giống ngọn lửa, giống... máu." Sau đó chỉ vào quả táo ngoài cửa sổ: "Táo, màu đỏ, ngọt, có thể ăn, nhưng hạt thì không được ăn."

Bà để cô bé chạm vào các loại vải có chất liệu khác nhau, mô tả cảm giác: "Vải lanh thô ráp, lụa bóng loáng, vải dạ mềm mại..."

Điều đáng ngạc nhiên là tốc độ học từ vựng của cô bé rất nhanh, nhất là danh từ và các tính từ trực quan.

Cô nhanh chóng có thể chỉ chính xác hầu hết đồ vật trong cửa hàng. Nhưng khi liên quan đến khái niệm trừu tượng, quan hệ logic hoặc câu phức, cô lại tỏ ra bối rối.

Gwen còn thử dùng câu chuyện để dẫn dắt, bà kể một phiên bản rút gọn của "Ba chú heo con", dùng vải vụn làm thành những con rối nhân vật đơn giản.

Cô bé nghe đến say sưa, khi nghe đến đoạn sói già thổi đổ ngôi nhà, đôi tai cô dựng đứng, cái đuôi căng cứng, trong cổ họng phát ra tiếng gầm gừ khe khẽ.

Khi nghe kể về việc chú heo nhỏ dùng trí tuệ để chiến thắng sói, cô mới từ từ thả lỏng người.

"Cháu còn nhớ... con sói không?" Gwen thăm dò hỏi.

Cô bé quàng khăn đỏ nghiêng đầu, ánh mắt có chút trống rỗng, cô sờ lên bụng mình, rồi lại chỉ ra khu rừng bên ngoài, thốt ra vài từ mơ hồ: "Lớn... đói... đen... đau..."

Gwen và Story đang đứng xem trao đổi một ánh nhìn, điều này rõ ràng ám chỉ đến trải nghiệm cô từng nuốt chửng dạ dày sói.

Gwen không truy hỏi sâu thêm, chuyển sang cầm kim chỉ lên, dạy cô cách khâu vá đơn giản nhất. Sự linh hoạt ở những ngón tay của cô bé vượt xa người thường, nhưng kiểm soát lực đạo vẫn là một vấn đề lớn.

Ngay lần thử đầu tiên, cô đã làm gãy ba cây kim, đâm miếng vải lành lặn thành cái sàng, còn tự làm ngón tay mình chảy máu—nhưng máu ngừng chảy rất nhanh, vết thương cũng tự lành lại.

"Chậm thôi con, kim chỉ không phải là vũ khí, mà là sự kết nối và hàn gắn." Gwen kiên nhẫn làm mẫu, "Hãy nhẹ nhàng hợp nhất hai mảnh vải đang tách rời lại với nhau."

Cô bé quàng khăn đỏ nhìn Gwen đưa kim dẫn chỉ, khâu hai mảnh vải vụn thành một đóa hoa thô sơ, trong mắt lộ ra một sự tập trung kỳ lạ.

Lần này, cô không làm gãy kim nữa, dù đường khâu vặn vẹo nhưng quả thực đã nối được hai mảnh vải lại với nhau. Gwen cài đóa hoa vải nhỏ đó lên cổ áo cô bé.

Cô bé quàng khăn đỏ cúi đầu nhìn, dùng ngón tay chạm nhẹ vào, chóp đuôi khẽ đung đưa.

Người thầy thứ tư là phu nhân Gressa, bà đưa cô bé về ngôi nhà gọn gàng của mình, cố gắng dạy cô những việc chăm sóc bản thân cơ bản: rửa mặt, chải đầu, mặc quần áo.

Khi chải đầu, vì chiếc lược vướng vào mái tóc rối, cô bé gầm gừ đầy mất kiên nhẫn, suýt chút nữa bóp nát chiếc lược, khiến phu nhân Gressa sợ hãi vội vàng đưa cho cô một viên kẹo mật ong.

Mặc một chiếc váy liền thân đơn giản lại càng là một thảm họa.

Cô bé không thể hiểu nổi những chiếc cúc và dây đai, cảm thấy bị gò bó, trong lúc bực bội, cô dùng chút sức—xoẹt! Chiếc váy vải bông mới tinh rách từ cổ áo xuống tận gấu váy.

Phu nhân Gressa dở khóc dở cười, nhưng cũng tinh ý nhận ra rằng, khi sự chú ý của cô bé bị thứ khác thu hút, ví dụ như chậu cây trên bậu cửa sổ, hoặc con mèo già hiền lành mà bà nuôi, cử động của cô sẽ tự nhiên nhẹ nhàng hơn nhiều.

Vài ngày trôi qua, bãi đất trống bên rìa thị trấn đã trở thành một sân tập kiêm nơi tụ tập xem náo nhiệt kỳ lạ. Dân thị trấn từ sự sợ hãi, đề phòng ban đầu, dần dần chuyển sang thái độ tò mò, lo lắng, thậm chí là một chút giải trí khi đứng xem.

Họ nhìn cô gái sói đáng sợ kia vụng về học cách "làm người", nhìn cô lúng túng vì làm hỏng đồ đạc, nhìn đôi tai sói của cô rung rinh vui vẻ khi nhận được kẹo, và cũng nhìn cô thỉnh thoảng vì ăn sống thứ gì đó mà đột ngột rơi vào trạng thái "đồng cảm" ngắn ngủi kỳ quái.

Các sự cố trong lúc dạy học vẫn xuất hiện liên miên—trong xưởng rèn cô suýt chút nữa đập nát đe sắt xuống đất; lúc múc nước bên giếng thì làm đứt dây thừng; cố giúp lũ trẻ nhặt bóng nhưng lại đập quả bóng bay sang tận đầu kia thị trấn... Nhưng ít nhất, cô đã bắt đầu hiểu một cách mơ hồ về những điều cơ bản nhất như "được" và "không được", cũng như "nhẹ thôi" và "dừng lại".

Hiểu được "kẹo = chuyện tốt = phải nghe lời (ở một mức độ nào đó)", hiểu được một vài hành động (như đập phá, xé rách) sẽ mang lại vẻ mặt u ám của người thợ săn và không có kẹo, cũng ghi nhớ được vài chỉ dẫn sinh hoạt cơ bản và khuôn mặt của mấy người.

Quan trọng hơn, Story đã có được một khoảng thời gian quan sát quý giá, anh có thể tạm thời rời xa cô bé một lát.

Thường là khi cô đang tập trung hoàn thành một "nhiệm vụ" nào đó, ví dụ như cố gắng dùng "lực nhẹ" để xếp khối gỗ, hoặc nghe Gwen kể chuyện, anh sẽ đi ra vùng ngoại vi thị trấn để thăm dò sơ bộ theo hướng rừng bạch dương mà Wilson đã chỉ.

Trong một lần trinh sát đơn độc ngắn ngủi, tại rìa rừng bạch dương phía đông đầm nước đen, anh phát hiện ra vài dấu chân cũ kỹ, gần như bị lá rụng và rêu phong che lấp, cùng một nơi dường như từng được dùng làm đống lửa tạm thời, bên cạnh còn có một mảng vỏ cây nhỏ bị vật sắc nhọn khắc lên, vết khắc đã mờ nhạt từ lâu, khó mà nhận diện.

Manh mối mong manh, nhưng chứng minh Wilson không nhìn nhầm. Nơi này quả thực từng có người hoạt động, và rất có thể chính là người thợ săn năm xưa.

Truyện liên quan