Chương 108: Khảo sát mới về Hồng Lâu (5): Phê phán sâu sắc nghiên cứu Hồng Lâu của Hồ Thích và suy ngẫm về mô hình học thuật

I. Giải cấu tư tưởng căn nguyên thâm tầng: Sự lựa chọn chủ động vượt lên trên “Thời đại cực hạn”

1. Tính cấp tiến “Phản truyền thống” của phong trào Văn hóa mới

Việc Hồ Thích hạ thấp Trình Cao bản không đơn thuần là một sai lầm học thuật, mà là kết quả tất yếu từ sự phủ định có hệ thống đối với các vật dẫn văn hóa truyền thống của phe Tân văn hóa. Ông định nghĩa Trình Vĩ Nguyên là “kẻ buôn sách kiểu cũ”, bản chất là đưa đối tượng vào khung đối lập “Tiến bộ/Lạc hậu”. Đằng sau sự phê phán này là động cơ chính trị văn hóa rõ rệt, nhằm dọn sạch chướng ngại để xây dựng quyền diễn ngôn cho phong trào Văn hóa mới.

2. Cái bẫy nhận thức của chủ nghĩa khoa học

Hồ Thích đánh đồng đơn giản “chứng minh thực tế” với “khoa học”, nhưng lại bỏ qua tính phi khoa học trong phương pháp của chính mình:

- Ông mặc định “thuyết Tào Tuyết Cần là tác giả” là chân lý không cần kiểm chứng, vi phạm nguyên tắc “tính có thể kiểm chứng sai” của Karl Popper;

- Dùng “thuyết tự truyện” thay thế quy luật nghiên cứu sáng tác văn học, dùng khảo chứng lịch sử để lấn át lĩnh vực mỹ học, bộc lộ sự hiểu lầm mang tính thực dụng của giới giáo dục Trung Quốc thời kỳ đầu đối với “phương pháp luận khoa học”.

II. Cấu trúc ẩn tàng của quyền lực học thuật: Sự độc quyền phạm thức Hồng học

1. Thao túng quyền diễn ngôn tư liệu lịch sử

- Hồ Thích chọn lọc và xem nhẹ những thông tin mâu thuẫn trong các phê bình, như việc xuyên tạc cụm từ “đọc kỹ mười tái” trong Giáp Tuất bản thành “sáng tác mười tái”;

- Chuyển hóa tư liệu lịch sử còn nghi vấn thành bằng chứng uy quyền. Trong tình trạng thân phận Chi Nghiên Trai không rõ ràng, tính xác thực của lời bình còn tranh cãi, ông lại nâng nó lên thành tiêu chuẩn cơ bản để phán định Trình Cao bản, bản chất là xây dựng một hệ thống cấp bậc tư liệu lịch sử có lợi cho quan điểm cá nhân.

2. Sự độc quyền diễn ngôn của cộng đồng học thuật

Hồ Thích thông qua các nền tảng như Đại học Bắc Kinh, tạp chí Tân Thanh Niên để thể chế hóa “Tào học”, gạt ra ngoài lề các quan điểm phi chủ lưu như phái Thái Nguyên Bồi.

Các học giả đời sau do sự lệ thuộc vào phả hệ học thuật (như Chu Nhữ Xương), trong thời gian dài khó có thể đột phá gông cùm phạm thức này, dẫn đến những sai lầm bị kéo dài một cách có hệ thống, hình thành sự bài xích của quyền lực học thuật đối với các ý kiến dị biệt.

III. Điểm mù trong nhận thức về bản chất văn học: Sự che đậy của chủ nghĩa thực chứng đối với mỹ học

1. Cách hiểu máy móc về mối quan hệ “Tác giả - Văn bản”

Hồ Thích coi khảo chứng tác giả là chìa khóa duy nhất để giải mã Hồng Lâu Mộng, từ chối thảo luận:

- Giá trị mỹ học độc lập của văn bản khi thoát ly tác giả, bỏ qua góc nhìn của mỹ học tiếp nhận;

- Vai trò tích cực của sáng tác/chỉnh sửa tập thể đối với sự hình thành kinh điển, không tham khảo lịch sử diễn biến của các tiểu thuyết cổ điển như Thủy Hử Truyện. Cách làm này dùng khảo chứng tư liệu lịch sử để tiêu diệt bản thể luận nghiên cứu văn học.

2. Dự thiết phủ định đối với “tính hư cấu”

“Thuyết tự truyện” hàm chứa tiền đề “chỉ có sự thật mới có giá trị”, dẫn đến:

- Đánh đồng việc khảo chứng nguyên mẫu nhân vật với phê bình văn học;

- Bỏ qua thành tựu nghệ thuật của các thủ pháp hư cấu trong tiểu thuyết, như cấu trúc thần thoại trong Thái Hư ảo cảnh. Cuối cùng, biến Hồng học thành phụ thuộc của lịch sử học.

IV. Gợi ý đương đại: Cuộc cách mạng phương pháp luận chưa hoàn tất

1. Sự thiếu hụt trong nghiên cứu liên ngành

Các thành tựu nghiên cứu khoa học kỹ thuật đương đại đã tạo ra thách thức đối với phạm thức của Hồ Thích:

- Phân tích văn bản bằng AI cho thấy, sự khác biệt về phong cách ngôn ngữ giữa 80 hồi đầu và 40 hồi sau không đủ để củng cố “thuyết Trình Cao ngụy tạo” (nghiên cứu thống kê của Trần Bỉnh Tảo);

- Thí nghiệm niên đại giấy cho thấy Trình Cao bản có khả năng xuất hiện sớm hơn các chi bản hiện có. Cơ sở kỹ thuật của phạm thức Hồ Thích đang dần sụp đổ.

2. Định nghĩa lại khái niệm “bằng chứng”

Trong nghiên cứu văn học, “bằng chứng” nên bao hàm logic nội tại của văn bản, tính thống nhất của cấu trúc tự sự, độ thích ứng với ngữ cảnh văn hóa và nhiều nội dung đa chiều khác, chứ không chỉ giới hạn ở các vật chứng xơ cứng như “bản thảo trực tiếp của Tào Tuyết Cần”. Điều này đòi hỏi phải phá vỡ sự mê tín vào chủ nghĩa trung tâm tư liệu lịch sử, định nghĩa lại hệ thống bằng chứng nghiên cứu văn học.

V. Kiểm điểm và nâng cấp: Từ “Thừa nhận sai lầm” đến “Tái cấu trúc phạm thức”

Bảng so sánh: Quy trình kiểm điểm nguyên bản Vs Quy trình phê phán tăng cường

- Cắt xén tư liệu lịch sử không thỏa đáng, cấu trúc hệ thống cấp bậc uy quyền tư liệu lịch sử có lợi cho phe mình.

- Sai lầm logic của thuyết tự truyện, lấy chứng minh thực tế lịch sử thay thế nghiên cứu bản thể văn học.

- Hạ thấp Trình Cao bản, bạo lực học thuật của trào lưu tư tưởng phản truyền thống thời Tân văn hóa.

- Phản hồi không đủ cởi mở, quyền lực học thuật bài xích có hệ thống đối với các ý kiến dị biệt.

Lời kết: Hồng học cần một cuộc “Cách mạng Copernicus”

Sai lầm căn bản của Hồ Thích không nằm ở kết luận cụ thể, mà ở việc định vị Hồng học vào duy nhất một chiều kích “khảo chứng tác giả”, khiến nghiên cứu rơi vào bế tắc suốt trăm năm. Một sự suy ngẫm sâu sắc thực sự đòi hỏi:

1. Giải cấu “chủ nghĩa trung tâm Tào học”, thừa nhận khả năng diễn giải đa nguyên của Hồng Lâu Mộng;

2. Trả lại giá trị văn học cho chính văn bản, đình chỉ việc lấy khảo chứng tư liệu lịch sử thay thế phê bình mỹ học;

3. Tiếp nhận phạm thức liên ngành, thúc đẩy đối thoại bình đẳng giữa khoa học kỹ thuật và nhân văn.

Chỉ có như vậy mới có thể thoát khỏi trò chơi có tổng bằng không giữa “chứng Tào” và “phi Tào”, tái thiết tôn nghiêm học thuật của Hồng học trong sự tự giác về phương pháp luận.

Truyện liên quan